Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Đi tìm động trăn kỳ bí ở Sơn La (P1)

Nhắc đến Nguyễn Công P., người dân ở thị trấn nông trường Thảo Nguyên (Mộc Châu, Sơn La), không ai là không biết. Vị đại gia này nổi tiếng cả vùng Tây Bắc về buôn bán các loại thú nhồi bông và cung cấp các loại cao.

< Bản Thín nằm dưới chân núi Pha Luông.

Lãnh địa của trăn

Lạc vào nhà đại gia này, tôi thực sự choáng, khi khắp 4 bức tường phòng khách, kín các căn phòng treo la liệt các loại đầu lâu thú, kín nền nhà là các loại thú nhồi bông, từ hổ, báo, mèo rừng, nai, hoẵng, gấu, bò tót, trâu rừng… đến đầu trăn ngắc ngoải.

Trong nhà đại gia P. lúc nào cũng đỏ lửa nấu các loại cao. Cao hổ thì phải đặt hàng, vì nguồn hổ hiếm, nhưng cao trăn thì khách đặt cả tạ cũng có. Tôi hỏi rằng, nguồn cao trăn ở đâu lắm thế, đại gia này bảo rằng, dãy núi Pha Luông, đoạn chạy qua Vườn quốc gia Xuân Nha, thuộc huyện Mộc Châu có rất nhiều trăn. Theo lời đại gia P., chỉ cần ông đặt hàng trước 1 tuần, thì đám con buôn sẽ gom được cả tạ trăn, mà đảm bảo 100% là trăn hoang dã. Việc bắt trăn cũng không quá vất vả, chỉ việc xách bao, đeo chiếc đèn pin, chui vao hang động, là có thể thu hoạch được cả… bao trăn!

Nghe đại gia P. nói vậy, tôi tỏ vẻ không tin. Thi thoảng, người dân bắt được con trăn hoang dã, đã khiến cả vùng rộng lớn xôn xao, chứ làm gì có chuyện trăn hoang dã còn nhiều đến thế. Đại gia P. quả quyết với tôi rằng, ngay cửa Vườn quốc gia Xuân Nha, có một số hang động, trong đó, nổi tiếng là hang Hằng, có rất nhiều trăn. Dù không tin lời đại gia P. lắm, xong tôi vẫn thử tìm đến dãy núi Pha Luông, đi tìm hang động kỳ bí, nơi có rất nhiều trăn, theo chỉ dẫn của vị đại gia có cả dây chuyền nấu cao kia.

Từ ngã ba Vân Hồ, thủ phủ của các ông trùm buôn bán ma túy khét tiếng, tôi rẽ vào con đường dẫn đến xã Xuân Nha, nằm dưới chân dãy núi Pha Luông. Những bản người Mông hiện lên trong màn sương mờ, với hoa mận, hoa mơ bung nở trắng li li như những bông tuyết. Con đường đã trải nhựa, nhưng dốc ngược như đường lên trời, lúc quanh co bên vách núi, lúc xuyên qua núi đá như máng nước. Đi mãi mà chẳng gặp người. Con đường dốc dác xuyên đại ngàn sang Lào này nghe đồn rằng, cửu vạn ma túy đi lại nhiều hơn cả đồng bào bản địa.

< Dựng nhà ở bản Thín.

Con đường gần 20 km từ Mộc Châu vào Xuân Nha chìm nghỉm trong mây, nhưng thung lũng Thín hiện ra trong nắng nhạt, ấp áp. Dọc con đường xuyên qua bản, thanh niên trai tráng dựng nhà đông như hội. Đồng bào Thái ở đây thường dựng nhà vào cuối năm và việc dựng nhà chủ yếu do thanh niên. Họ làm nhà giúp nhau một cách vô tư, không lấy tiền.

Trưởng bản Vì Văn Đoài bảo: “Bản Thín của mình nằm dưới thung lũng, bốn bề núi cao vây bọc, nên dù khắp các đỉnh núi mây mù, lạnh giá, thì bản Thín vẫn quang đãng, ấm cúng. Nhiệt độ ở đây lúc nào cũng cao hơn Mộc Châu gần 10 độ. Mùa hè thì nóng lắm. Mình đi Hà Nội rồi. Thủ đô không nóng bằng bản Thín của mình đâu”. Tôi gật gù ra vẻ hiểu biết: “Bốn bề lạnh giá, mà bản Thín lại nóng ấm thế này, chắc là trăn rắn khắp nơi tụ về nhiều lắm!”.


< Trưởng bản Vì Văn Đoài.

Trưởng bản Đoài bảo: “Ồ, nhà báo nói đúng rồi. Bản Mình nổi tiếng có nhiều trăn rắn mà. Chẳng mấy ngày là không có người tóm được trăn, rắn. Đêm nào trăn chẳng mò về bản bắt gà. Bản mình cứ nghèo, cứ đói mãi vậy thôi. Nuôi con gà, con dê, con lợn nào có dám thả ra rừng. Mấy ông trăn xơi hết ngay. Mà nhốt trong chuồng rồi, ông trăn vẫn tìm về ăn vụng của bản mình”.

Theo trưởng bản Đoài, vừa mới đây thôi, cách chừng nửa tháng, cả bản nháo nhào chạy ra đường xem có sự gì lạ, thì thấy hai thanh niên lững thững vạch rừng đi ra đường cái. Chuyện cứ như phim kinh dị: Hai thanh niên gánh cây gỗ trên vai. Trên cây gỗ ấy là con trăn khổng lồ quấn như sợi thừng quanh cây gỗ. Đầu và đuôi trăn bị buộc thít chặt bằng dây lạt nên không ngắc ngoải được.

Trưởng bản Đoài biết rằng, bắn trăn hoang dã là vi phạm pháp luật, là giết hại động vật trong sách đỏ, nhưng khổ nỗi, nhiều đồng bào trong bản lại… vui mừng khôn xiết. Đồng bào ghét con trăn ấy lắm, vì nó to như thế, nặng đến mấy chục cân như thế, sống dễ đến chục năm trong rừng như thế, thì nó xơi không biết bao nhiêu dê, lợn, gà của đồng bào rồi.

< Trăn thường xuyên về bản Thín 'ăn trộm' gia cầm của đồng bào.

Trưởng bản Đoài bảo, mấy chục năm trước, rừng Xuân Nha rất nhiều hổ và chó sói. Hổ tuy khiến đồng bào khiếp sợ, nhưng chó sói mới là lũ phá hoại đồng bào nhiều nhất. Trâu bò thả lên rừng toàn bị bọn sói đỏ đớp thủng mông, moi lòng phèo ra xơi. Đớp chết con này, ăn hết lòng phèo, chúng lại giết hại con khác.

Rừng Xuân Nha bị lâm tặc khai thác cạn kiệt, bị đồng bào di cư chặt hạ nhiều nơi, nên hổ biến mất, sói cũng bị đuổi đi xa, những tưởng cuộc sống đã bình yên, nhưng lại bị bọn trăn quấy rối. Chính vì thế, dù biết rằng, trăn là loài vật trong sách đỏ, bị cấm săn bắt, nhưng nếu loài động vật ấy cứ đêm đêm mò vào tận chuồng xơi gà, vịt, dê, lợn của đồng bào, thì đồng bào ức nó lắm. Đó cũng là tâm lý dễ hiểu. Tôi hỏi trưởng bản Đoài: “Trưởng bản biết trăn là loài vật được ghi trong sách đỏ, cấm săn bắt, giết hại? Vậy trưởng bảo có tuyên truyền cho người dân hiểu không?”.

< Dãy núi Pha Luông ở huyện Mộc Châu.

Trưởng bản Đoài bảo: “Mình biết chứ, nhưng con trăn nó phá đồng bào mình quá. Thú thật với nhà báo là mình cũng… xơi thịt trăn liên tục ấy mà. Nhà báo không tin thì mình lấy mỡ trăn cho nhà báo xem nhé. Nhà mình có nhiều mỡ trăn lắm. Nó ở rừng thì nó là giống hoang dã, cần bảo vệ, nhưng nó mò về nhà mình, ăn gà nhà mình, thì nó là kẻ thù của mình, mình phải ăn thịt nó chứ. Mình không ăn thịt nó, thì nó ăn gà, ăn lợn nhà mình”.

Tôi và trưởng bản Đoài đang tranh luận về việc bảo vệ trăn hay tóm trăn mổ thịt, thì bà Vì Thị Chuẩn ghé vào nhà trưởng bản. Trưởng bản Đoài bảo: “Chị Chuẩn là chị gái mình đấy. Trăn vừa về nhà chị ấy trộm gà, bị mấy người nhà mình tóm sống và ăn thịt nó rồi”.

Tóm trăn làm thịt

Khi tôi đang tranh luận chuyện nên bảo vệ trăn, hay tóm sống chúng để làm thịt với trưởng bản Vì Văn Đoài (bản Thín, Xuân Nha, Mộc Châu, Sơn La), thì bà Vì Thị Chuẩn ghé nhà trưởng bản chơi. Bà Chuẩn là chị gái trưởng bản Đoài.

< Bà Chuẩn rất bức xúc vì bị trăn trộm rất nhiều gà, vịt.

Đang nói chuyện trăn, bà Chuẩn bảo: “Mình nuôi được 10 con gà, thì chỉ ăn thịt được 5 con thôi, vì 5 con gà bị trăn ăn trộm mất. Bọn trăn tham lam lắm, cứ đêm đêm mò về bản bắt gà của mình”. Nhiều đêm đang ngủ, nghe tiếng gà kêu quang quác, bà trở dậy, bật đèn pin rọi vào chuồng gà, y rằng có một tên trăn vung thân phóng vọt vào rừng. Đấy là những tên trăn gan bé, chứ nhiều lần, thấy bà, chúng chẳng thèm chạy, cứ ung dung nuốt chửng gà vịt, rồi mới lững thững bò đi.

Bà Chuẩn vốn bị bỏng từ nhỏ. Hồi 6 tháng tuổi, mới đang tập bò, thì bò đúng vào đống than hồng giữa nhà. Giờ đã ở tuổi 50, nhưng khuôn mặt vẫn chằng chịt sẹo. Vì hạn chế nhan sắc, nên bà không lấy được chồng, ở một mình một nhà. Vậy nên, đêm hôm, soi đèn pin vào chuồng gà, thấy trăn khổng lồ, to bằng cây chuối, cái phích, nửa thân trong chuồng đớp gà, nửa thân còn dài ngoẵng tít hút, bà hãi lắm, sợ đến chết đứng, thì sao còn tóm được chúng nữa. Thôi đành để nó xơi no bụng, rồi tự nó bò đi. Đuổi nó, nó xơi thịt cả bà, thì quá tội nợ.

< Dù biết trăn là động vật trong sách đó, nhưng anh Đoài vẫn bức xúc vì chúng liên tục ăn cắp vật nuôi của dân bản.

Bà Chuẩn bức xúc: “Nhưng bọn trăn cứ ăn gà của mình thế thì mình bức xúc lắm. Mình nuôi mãi mới được chục gà, để tết mổ thịt cúng tổ tiên, mà nó ăn hết thì ai mà chịu được”. Bức xúc vì bọn trăn, mà nhờ vả mấy cậu em, mấy đứa cháu đều không được, vì tất cả đều… sợ trăn, nên bà Chuẩn kêu ông Quyết, người Chum Nưa, cách nhà bà Chuẩn nửa ngày đường, đến ở cùng, để phục kích tóm bọn trăn.

Ông Quyết là người góa vợ, là bạn bà Chuẩn. Ông bà đều đã già, sống cảnh neo đơn, nên bầu bạn cho đỡ buồn. Hôm đó, cách đây mới 2 tháng, sắp đến ngày rằm, trăng sáng vằng vặc, ông bà đốt lửa, uống trà, hút thuốc lào đến quá nửa đêm, mà không thấy trăn mò vào chuồng trộm gà, nên tắt đèn đi ngủ.

4 giờ sáng, tiếng con gà mái quang quác mấy tiếng, rồi im bặt. Bà Chuẩn trở dậy, mang đèn đi ra sân. Bình thường, nếu trăn mò vào chuồng gà, thì cả đàn phải kêu quang quác, đánh thức cả bản, đằng này, lại chỉ nghe mấy tiếng con gà mái, nên bà Chuẩn nghĩ chỉ là chuột trêu gà, nên bà lại vào giường nằm. Thế nhưng, vừa đặt lưng, thì lại nghe tiếng con gà trống kêu. Nó chỉ kêu vài tiếng rồi im luôn. Nghĩ có sự lạ, có thể bọn chồn, cầy bắt gà, nên bà Chuẩn mò dậy, mang đèn pin soi chuồng gà.

< Trăn từ ngọn núi kia thường xuyên về nhà bà bắt trộm gà, vịt.

Chiếu đèn pin vào chuồng, bà Chuẩn đứng tim, vì một con trăn khá lớn, thân to gần bằng cái phích, dài cỡ 5m đang đớp ngang con gà trống. 3 con gà, cả trống lẫn mái nằm chết thẳng cẳng dưới nền đất. Con trăn rất lớn, nên nó đớp một cái, hoặc cuộn thân bóp nhẹ là bọn gà chết thẳng cẳng. Bà Chuẩn chạy tọt vào nhà lay ông Quyết dậy. Từng là thợ bắt trăn, bắt rắn lành nghề, nên ông Quyết chẳng vội vàng gì. Ông chậm chạp trở dậy, vươn vai, vặn mình mấy cái, rồi mò xuống dưới bếp tìm cái bao tải.

Bà Chuẩn sốt ruột giục, thì ông bảo cứ bình tĩnh. Hóa ra, nếu lúc đó xông vào chuồng gà ngay, thì con trăn sẽ bỏ chạy mất dạng. Nhưng nếu nó đã xơi mấy con gà, hoặc đang nuốt gà đến cuống họng, nó sẽ chậm chạp, và đó chính là cơ hội để tóm sống trăn. Từ lúc bà Chuẩn thông báo hốt hoảng, phải sau 15 phút sau, ông Quyết mới vòng từ phía bìa rừng, rồi tiến vào chuồng gà, theo hướng con trăn đi vào. Thấy đuôi nó vẫn lòng thòng ở ngoài, nửa thân trên trong chuồng gà, ông Quyết mặc kệ.

< Dãy Pha Luông mờ sương nhìn từ bản Thín.

Ông lần dọc về phía đầu con trăn. Ông dùng búa ráng sức bình sinh, táng một quả chí tử vào sống lưng con trăn. Con trăn bị gãy xương sống, đau đớn, quằn quại. Ông Quyết xông vào đè đầu nó xuống. Bà Chuẩn vạch miệng bao tải chụp vào đuôi con trăn. Con trăn quằn quại, rồi tuột dần vào bao tải.

Sáng hôm sau, bà Chuẩn thông báo với cả bản về việc tóm sống tên trăn chuyên trộm gà vịt của bà con. Dân bản kéo đến chúc mừng, hả hê vì đã tóm được “tên trộm”. Đích thân trưởng bản Vì Văn Đoài đã chạy sang bản Mường An, nhờ ông Xuân, là thợ nấu cao trăn nổi tiếng trong vùng đến xử lý giúp tên “tội phạm” này.

Ông Xuân bảo, trăn to thế này đích thị là trăn gió. Thế rồi, trước mặt đông đảo mọi người, chú trăn bị treo ngược lên xà nhà. Ông Xuân rạch đường nhỏ ở họng, máu tuôn xối xả. Lòng trăn được một chảo, xào thơm lừng. Thịt trăn được chế biến mấy món liền. Cả gia đình trưởng bản đánh chén nó say. Phần còn lại, ông Xuân đóng vào bao mang về nấu cao. Vài ngày sau, ông Xuân mang cao về cho bà Chuẩn. Bà Chuẩn chia cho mỗi người một ít cao và mỡ trăn. Người dân ở bản Thín đều dự trữ mỡ trăn trong nhà dùng để trị bỏng.

< Trăn thường xuyên vào nương rẫy bắt dê của bà con, vào tận chuồng bắt gà, lợn.

Theo lời trưởng bản Đoài, vì bọn trăn liên tục mò về bản trộm gà, vịt, dê, lợn, nên chẳng tháng nào mà không có một tên trăn bị tóm. Mới đây nhất, cách hôm chúng tôi lên bản Thín đúng 10 ngày, thì anh Thánh, cũng là họ hàng với trưởng bản Đoài, tóm được tên trăn đất khá lớn, nặng chừng 40kg, dài khoảng 4m.

Cứ khoảng chục ngày đến một tháng, tên trăn này lại mò về nhà anh Thánh ăn trộm. Hôm thì nó xơi mất vài con gà, hôm thì nó nuốt chửng con lợn. Anh Thánh bức xúc lắm, nhưng chưa có cách nào trả thù được con trăn. Anh Thánh đã chấp nhận hy sinh một con lợn cắp nách, nặng 20kg để tóm tên trăn này. Anh đã dùng dây thừng thít chặt chân chú lợn, rồi buộc sợi dây vào cột chuồng.

Tên trăn đất mò vào chuồng, bóp chết lợn, nuốt chửng chú lợn. Tuy nhiên, nó cũng nuốt luôn cả sợi dây thừng. Nó chưa kịp nôn con lợn ra để tẩu thoát, thì đã bị anh Thánh cùng người nhà tóm sống. Mọi người còn đang tính xả thịt xào nấu liên hoan ăn mừng, hay thả nó vào nồi nấu cao, thì thợ mua trăn từ Mộc Châu tìm vào trả giá. Được món hời, nên anh Thánh bán cho lái buôn. Sau này tôi mới biết, chính đại gia P. ở Mộc Châu đã mua con trăn này. Nó đã thành cao.

< Tháng nào người dân bản Thín cũng tóm được trăn.

Xa hơn một chút, cách nay tròn 3 tháng, ông Chức, ở cuối bản Thín, cũng tóm được một tên trăn gió, chỉ nặng 22 kg. Tên trăn này cũng vong mạng vì dám mò vào chuồng gà và xơi tái mấy con gà liền. Chú trăn xấu số này đã biến thành những miếng cao vuông vức. Vì trưởng bản Đoài là em họ của ông Chức, nên cũng được chia miếng cao và một ít cao để ngâm rượu uống cho bổ.

Còn tiếp
Đi tìm động trăn kỳ bí ở Sơn La (P1)
Đi tìm động trăn kỳ bí ở Sơn La (P2)
Đi tìm động trăn kỳ bí ở Sơn La (P3)

Du lịch, GO! - Theo Phạm Ngọc Dương (VTC)

Kỳ bí võ sáo Yên Thế

Vùng rừng núi Yên Thế phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang xưa kia non cao hiểm trở, xa cách kinh thành Thăng Long.

< Thế võ sáo “Phượng hoàng hạch đỉnh” (Chim phượng hòa bay trên đỉnh núi).

Trong sử sách thời Lê (1428 - 1527), qua tác phẩm "Dư địa chí", danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi (1428 - 1527) từng ngợi ca về vùng đất thượng võ Yên Thế. Chính tại nơi đây, vào quãng thời gian từ cuối thế kỷ XIX tới đầu thế kỷ XX, cuộc khởi nghĩa Yên Thế của người anh hùng nông dân áo vải Hoàng Hoa Thám đã lưu danh vào sử sách. Và cũng chính tại mảnh đất này đã sản sinh ra một môn võ bí truyền của dân tộc, đó là võ sáo.

< Võ sư Trịnh Như Quân thổi bài sáo “Bóng trăng Phồn Xương”  bằng cây sáo sắt "Rồng giun"  dài hơn 2m, nặng 5kg.

Thế nhưng mấy ai đã được chứng kiến và thưởng thức một sản phẩm đầy chất thơ, chất huyền thoại lãng mạn nhưng cũng đầy hào khí của nhà binh nơi trận mạc. Một sản phẩm đầy chất thơ, chất huyền thoại lãng mạn nhưng cũng là một loại hình võ thuật mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc hiện đang được khôi phục trên quê hương của cụ Đề Thám.

Võ sáo không sử dụng sáo bằng tre, trúc đơn thuần mà phải bằng sắt, rất to và nặng. Cách sử dụng các đòn thế tương tự phương thức của đao kiếm và thấp thoáng bóng dáng của đoản côn. Nét độc đáo nhất của võ sáo là được sử dụng trong giai điệu nhạc cổ truyền của dân tộc. Khi thể hiện ngón võ này, ngoài những công phu trong võ thuật, người võ sĩ còn phải là một nghệ sĩ thả hồn trong những bản nhạc du dương, lãng mạn, bay bổng mà vẫn không quên mình đang là một tráng sĩ oai hùng giết giặc nơi sa trường.

Thẹo cụ Triệu Quốc Úy, lúc đầu bài võ sáo có tên là "Thiết địch thần phong ngọc tiêu điện khải", tức có nghĩa là cây sáo sắt mạnh như ngọn gió thần với những tiếng sáo du dương huyền diệu. Sau đó bài võ sáo này được đổi tên thành "Bóng trăng Phồn Xương", gắn với địa danh kháng chiến nổi tiếng của nghĩa quân Yên Thế.

Võ sư Trịnh Như Quân chia sẻ: “Có khi là đánh nhau nhưng vì một bài sáo thôi mà cả những đám tàn quân, thổ phỉ hay là quân giặc đều thấy chán ngán muốn trở về quê hương. Tùy theo nỗi lòng của người tráng sĩ ấy mà nó nhắc nhủ hoặc làm một công việc chính trị nào đó thì phải lãng mạn như thế mà lại cảm hóa được quân địch, vừa là có uy thế với quân địch”.

Qua tiếng sáo, người nghe có thể cảm nhận được nội lực, khí lực của người thổi sáo. Người luyện võ sáo đến độ tinh thông có thể điều khiển cây sáo sắt theo ý muốn, khi uyển chuyển, khi ào ạt mạnh mẽ như vũ bão, lúc lại mềm mại hư ảo khiến cho đối phương không thể đoán định được. Với những giá trị như vậy, năm 1993, võ sáo chính thức được ghi danh vào “sổ tay võ thuật toàn quốc”. Sau gần 1 thế kỷ vắng bóng, môn võ thuật này đang dần được khôi phục trở lại trên quê hương của cụ Đề Thám thông qua những lớp truyền dạy cho các thế hệ kế cận.

Võ sư Trịnh Như Quân nay 59 tuổi, đã phát triển nâng tầm võ sáo đạt đến mức hoàn chỉnh, nhuần nhuyễn và  tinh diệu cả về âm nhạc và võ thuật. Ông cho biết, sáo sắt thời nghĩa quân Yên Thế xưa dài khoảng 65cm - 70cm, nặng 0,4kg như một cây mã tấu. Sáo sắt có thể dùng để đánh, đỡ, đâm... Bình thường, sáo sắt có thể dùng làm nhạc khí, nhưng khi có biến nó trở thành thứ vũ khí lợi hại lúc cương, lúc nhu, uyển chuyển vô cùng.

< Thế võ sáo “Đầm trên nước” (Đá thế hoa sen quỳ).

Sau quá trình mày mò tìm hiểu nghiên cứu, võ sư Trịnh Như Quân đã chế ra những cây sáo sắt đặc biệt hơn, có kích thước và trọng lượng lớn hơn. Ví dụ như cây sáo "Tiêu Tương" dài 1,6m, nặng 4kg; cây sáo "Cõi Thiên Thai" nặng 3,5kg. Đặc biệt, cây sáo "Rồng giun" dài hơn 2m, nặng 5kg có âm thanh chuẩn, có thể hòa tấu cùng dàn nhạc hiện đại.

Ông Lê Trí Dũng - Phó Chủ tịch UBND huyện Yên Thế, Bắc Giang cho biết: “Chúng tôi đang tổ chức các câu lạc bộ Võ sáo để phát huy giá trị văn hóa về mặt tinh thần, ca ngợi tinh thần bất khuất của nhân dân các dân tộc Yên Thế chống thực dân Pháp đồng thời cũng là sinh hoạt truyền thống của một vùng quê nổi danh Yên Thế anh hùng.”

Những thế hệ nhỏ tuổi nơi đây rồi sẽ lại tiếp bước truyền thống cha ông oai hùng, gìn giữ, phát huy môn võ cổ truyền đầy chất huyền bí của người anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám năm xưa. “Bóng trăng phồn xương” - bài võ bí truyền của môn võ sáo giờ đây sẽ không chỉ vang bóng một thời mà sẽ nó tiếp tục được thăng hoa, tỏa sáng bởi những thế hệ hậu duệ.

Du lịch, GO! - Theo VTV, VNA...

Mừng "Tết con rắn" ở cột mốc số 0

Từ Hà Nội, chúng tôi vượt gần 800 cây số mới đến được cột mốc số 0 ở xã Sín Thầu (Mường Nhé, Điện Biên). Ngã ba biên giới thường ngày lặng im như tờ, tịnh không một bóng người vậy mà trong tháng 12 này, không chỉ ở cột mốc số 0 mà nhiều bản làng Mường Nhé đông rợp người. Rượu tràn cung mây cùng những điệu xòe đón tết của người Hà Nhì.

Tết con rắn Hồ Sự Chà

Đến hẹn lại lên, cứ vào tháng 12 dương lịch hằng năm, người dân tộc Hà Nhì khắp Việt Nam lại vui tết cổ truyền của dân tộc mình. Tây Bắc mùa này hoa trạng nguyên nở rộ khắp các cung đường như món quà tạo hóa ban tặng cho dân bản đón tết.

< Người Hà Nhì làm bánh dày đón tết.

Tết Hà Nhì bao giờ cũng theo lịch dương, không có ngày cố định nhưng lịch được chọn theo ngày giờ đẹp. Tức là ngày rồng, tháng chuột, giờ dê để các trưởng bản già làng và người dân tổ chức đón tết. Tết Hà Nhì còn được gọi với một cái tên mỹ miều và cũng đặc trưng là Hồ Sự Chà.

Người Hà Nhì từ già tới trẻ không ai giải thích được từ Hồ Sự Chà có ý nghĩa cụ thể là gì. Chỉ biết từ đó có nghĩa là tết cổ truyền mà tổ tiên truyền lại. Họ bảo, người Hà Nhì không có con chữ riêng, chỉ có ngôn ngữ nên không biết rõ Hồ Sự Chà là gì.

Nhưng có một điểm giống với người Kinh là họ có lịch 12 con Giáp. Năm trước là tết con rồng thì năm nay là tết con rắn, rồng rắn lên mây nên cách tổ chức cũng gần giống nhau. Tuy rằng, tết Hồ Sự Chà mỗi nơi mỗi khác nhưng tựu chung lại ở một điều, tết không chỉ là thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới mà còn là ngày hội để dân bản tụ họp ăn uống và chúc nhau những lời chúc sức khoẻ, may mắn, thuận lợi và cầu cho đồng ruộng được tốt tươi, ngô sắn đầy nương, con cháu đầy nhà.

Ở Mường Nhé chỉ có 4 xã là có người Hà Nhì. Chúng tôi dọc theo các xã để vui tết, đến đâu cũng thấy rượu và những điệu xòe đẹp đến mê hồn của những thiếu nữ sơn cước có phần kiêu sa trong bộ đồ sặc sỡ sắc màu của dân tộc mình.

Đêm thứ nhất tại xã Leng Su Sìn, một xã giáp ngã ba biên giới chỉ khoảng 20 cây số. Dân cư nơi đây không phải quá đông nhưng cũng không ít. Đêm vui tết, tất cả bản làng quần tụ nhau lại, họ ăn uống hát hò bằng ngôn ngữ riêng của người Hà Nhì.

Ở Sín Thầu vui hơn vì gần như 100% dân cư nơi đây là người Hà Nhì. Họ sống trên những thung lũng rộng lớn ở biên giới. Phía bên kia là Trung Quốc và Lào, bên này là Sín Thầu "đỏ lửa". Sở dĩ, người ta gọi là Sín Thầu "đỏ lửa" vì người bản địa còn giữ được truyền đốt lửa suốt đêm ngày để vui tết Hồ Sự Chà.

"Kha pi pô"

< Trang điểm đón tết.

Những em nhỏ tung tăng trong bộ đồ mới theo chân bố mẹ đi chúc tết. Những sơn nữ đẹp như tranh vẽ thướt tha trên cung đường núi đá như điểm xuyết thêm sắc màu rực rỡ cho vùng mốc số 0. Những cụ già còng lưng chống gậy nhưng tay mang theo chai rượu ngô thơm nức, gặp ai cũng uống, gặp ai cũng chúc "kha pi pô" cách nồng nhiệt.

"Kha pi pô" nghĩa là gì? Giản đơn thôi, đó là chúc sức khoẻ. Người Hà Nhì thường chúc sức khoẻ nhau trong năm mới, nếu nói đủ nghĩa thì phải là "Hồ Sự Chà kha pi pô", nghĩa là chúc mừng năm mới. Cụ già gặp em nhỏ vẫn cúi đầu xin chúc "kha pi pô", nam thanh nữ tú gặp nhau mời uống bát rượu và chúc "kha pi pô", người bản làng gặp khách lạ cũng rót rượu mời uống và chúc "kha pi pô".

Đến cột mốc số 0, người lạ sẽ không còn cảm giác lạ lẫm, cũng không có cảm giác mình là khách. Bởi giản đơn, với người Hà Nhì, tất cả là một, là anh em bản làng. Tết là dịp để đoàn tụ, để uống rượu hỏi thăm và chúc nhau sức khoẻ.

Bất kể bạn là nam hay nữ, lớn hay nhỏ đều phải uống rượu. Khi người đối diện đã rót ra bát, bạn phải uống cạn và đáp lời "kha pi pô". Không khí lạnh vùng biên giới càng như lạnh hơn vào ngày Hồ Sự Chà để bản làng uống thêm bát rượu, ăn thêm phần xôi nếp nương.

Bản ta hát thâu đêm

Giữa ngã ba biên giới hoang lạnh, đêm vui tết Hà Nhì bừng sáng, cả một vệt dài biên giới chói ánh lửa hồng. Tiếng hát vang khắp bản này sang bản khác. Tiếng nhạc, tiếng trống chiêng vang vui phơi phới. Sau khi uống rượu bữa tối, người Hà Nhì tập trung nhau lại để giao lưu văn nghệ. Những bài hát trữ tình của người Hà Nhì vang lên hợp cùng điệu xòe sơn nữ khiến bất kỳ ai cũng phải rung động.

Tôi gặp cô gái Sừng Thị Pi, sơn nữ đẹp nhất bản A Pa Chải của Sín Thầu. Bộ đồ sặc sỡ càng thêm dáng kiêu kỳ với má hồng ánh lửa. Họ duyên dáng và ngọt ngào trong giọng hát Hà Nhì, không chỉ qua giọng hát, họ còn thể hiện sự hiếu khách đến kỳ lạ.

Ông Cha Cừ Xè, một cao niên bản A Pa Chải bảo: "Cái tết Hồ Sự Chà là phải thật vui, bản làng ăn uống nhảy múa suốt đêm ngày. Càng hát nhiều, vui nhiều thì năm mới có nhiều niềm vui, may mắn".

Quả thật, ở ngã ba biên giới, đêm hội Hồ Sự Chà là đêm vui nhất trong 365 ngày. Họ quan niệm, đó là thời điểm thượng đế xuống kiểm tra công việc mà con người đã làm trong năm vừa qua. Cho nên, dù ai đi ngược về xuôi, ở bản làng nào thì phải về quê hương bản quán sắm sửa lễ tết cho chu đáo.

Các món tết truyền thống của người Hà Nhì mỗi nơi mỗi khác, ở ngã ba biên giới, món không thể thiếu là thịt lợn xiên và bánh dày. Thịt lợn thể hiện cho lộc trời, bánh dày thể hiện cho phúc đức tổ tiên. Mâm cỗ tết dù nhiều món thế nào cũng không quan trọng, nhưng thịt lợn xiên và bánh dày phải là món chủ đạo để cúng thần.

< Bộ đội biên phòng vui tết cùng người Hà Nhì.

Ở ngã ba biên giới, không chỉ có đêm tết Hồ Sự Chà mới nhảy hát thâu đêm. 3 ngày tiếp theo cũng được tổ chức linh đình để dân bản sang nhà nhau chúc tết. Đó cũng là dịp để con cháu và bạn bè gặp gỡ chúc tụng nhau sau một năm xa cách. Cột mốc số 0 trong những ngày này thật đông đúc, ngã ba biên giới vang lên tiếng chiêng tiếng trống suốt đêm ngày chào mừng ngày tết Hồ Sự Chà.

"Tết của người Hà Nhì không thống nhất về thời gian nhưng lại giống nhau ở cách chọn ngày. Ngày đầu của tết phải là ngày rồng, tháng chuột theo lịch tính riêng của người Hà Nhì. Chúng tôi rất tự hào khi người Hà Nhì luôn giữ được bản sắc dân tộc mình để không bị hòa tan và mất đi".
Ông Sừng Sừng Khai (Chủ tịch UBND xã Leng Su Sìn).

Du lịch, GO! - Theo Kienthuc, internet

Niết Bàn Tịnh Xá - Vũng Tàu

Niết Bàn Tịnh Xá (còn gọi là chùa Phật Nằm) tọa lạc tại số 66/7 đường Hạ Long, phường 1, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam. Chùa thuộc hệ phái Bắc Tông. Đây là một trong những ngôi chùa đẹp ở thành phố Vũng Tàu với những đường nét kiến trúc và tác phẩm điêu khắc đặc sắc.

Nằm ở trung tâm Bãi Dứa, Niết Bàn Tịnh xá được Hòa thượng Thích Thiện Huê tổ chức xây dựng từ năm 1969 đến năm 1974 mới hoàn thành trên triền núi Nhỏ, trước kia có tên là núi Tao Phùng, hướng mặt ra biển. Đây là một công trình đồ sộ gồm nhiều cấp, nhiều dãy nhà trên diện tích gần 10.000m².

Điểm nhấn kiến trúc khác là một cột cờ cao 21m, được làm thành 42 bậc biểu tượng cho 42 trang kinh phật đầu tiên được lưu truyền vào Việt Nam ở sân trước chùa. Lối lên rộng rãi, dọc theo triền dốc. Cổng chính nổi bật với bốn chữ Hán: Niết Bàn Tịnh Xá. Hai trụ cổng được khắc đôi câu đối đầy ý nghĩa:

Niết Bàn thị hiện, độ chúng niệm phật tâm thôn, chân giải thoát.
Tịnh xá quang minh, vô lậu giác ngộ chánh pháp, hiển như lai.

Phía trong là hai pho tượng ông Thiện và ông Ác cao lớn đứng trông cửa. Bên phải cổng có một bức phù điêu, rộng 2m, cao 4m chạm hình long mã, đầu rồng, chân ngựa bước trên sóng nước, phía trên hạc bay múa trong mây.

Phù điêu thực hiện bằng kỹ thuật ốp mảnh sứ men trắng vẽ lam, một kỹ thuật khá thịnh hành ở các chùa miếu, lăng tẩm Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sắc hoa văn mảnh sứ tạo nên sự rực rỡ, trang nhã và sống động cho bức phù điêu. Đối diện với bức phù điêu và phía trước chính điện là trụ phướn thanh thoát, cao vút 21m, gồm 42 não. Trụ phướn được đúc bê tông, dưới to, trên nhỏ dần, xung quanh ốp gạch men màu vàng đỏ, trên có ba nhánh búp sen toả đều ra ba hướng là một nét độc đáo của Niết Bàn Tịnh Xá.

Đường lên chính điện là hệ thống 37 bậc tam cấp có lối rộng chừng 2m. Bên phải ngay lối lên là hòn non bộ và lầu trống có Phật Di Lặc ngồi trên cao. Chính giữa là tượng hộ pháp Di Đà. Chiếc lư đồng Tứ Linh (Long, Lân, Quy, Phụng) có kích thước lớn, được trang trí khéo léo, công phu là báu vật của chùa. Chính điện Niết Bàn thể hiện một bức tượng Phật nhập Niết Bàn rất lớn - có lẽ vì vậy mà ngôi chùa có danh xưng Niết Bàn Tịnh Xá? Tượng Phật nhập Niết Bàn, màu nâu hồng tạo khắc đánh bóng công phu, khéo léo nằm nghiêng nhìn về hướng Tây, đầu gối lên tay phải, dài 12m nổi bật giữa chính điện. Vị thế của bức tượng, đầu quay về hướng bắc, chân duỗi thẳng hướng nam, theo truyền thuyết là tư thế của Đức Phật khi nhập Niết Bàn trên tảng đá tại Kusinara, gan bàn chân Phật được khắc 52 điểm ấn.

Bức tượng Phật nhập Niết Bàn càng trở nên sinh động, cuốn hút vì được đặt trong không gian có nhiều công trình Phật giáo mang tính nghệ thuật cao: Phía trên đầu và sau lưng Đức Phật Nhập Niết Bàn là quang cảnh thiên nhiên xanh tươi nổi bật với hai cây Long Thọ đắp nổi nhiều lớp. Những con công, con hạc dang rộng cánh ẩn hiện trong mây, những con sư tử, con hổ, con khỉ phủ phục chầu Đức Phật viên tịch nhập Niết Bàn… Tất cả đều được đắp nổi, chạm khắc công phu với màu sắc hài hoà, thanh khiết tạo nên khung cảnh vừa trang nghiêm vừa sâu lắng chốn cửa Thiền…

Trên bức tường bên phải chính điện treo một bức tranh sơn mài lớn thể hiện cảnh Phật ngồi thiền. Bên cạnh là một bức tranh khác thể hiện vườn Lộc dã, nơi Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu tiên…

Nhìn chung, chính điện Niết Bàn Tịnh Xá không lớn, ngoài những pháp khí nhà chùa, chính điện bài trí nhiều tích Phật, trong đó nổi bật là tượng Đức Phật nhập Niết Bàn, một tác phẩm điêu khắc lớn là niềm tự hào của tăng ni, tu sĩ Phật Giáo Vũng Tàu.
Phía sau chính điện là “Trai đường” của Chư Tăng. Trong phòng có treo 34 bức ảnh diễn tả lại cuộc đời Đức Phật từ khi sinh ra đến khi các đệ tử chia nhau Xá lợi. Trong phòng còn bài trí nhiều tranh tượng khác như tranh Di Lặc Lục Trần…

Dựa vào thế núi, Niết Bàn Tịnh Xá toạ lạc trên nhiều độ cao khác nhau. Phía trên và sau chính điện thờ Phật Tổ. Điện thờ Phật Tổ bài trí ba bức tượng Phật Thích Ca ngồi thiền rất lớn, theo thế đối xứng. Tầng trên là một mặt bằng rộng, thoáng đạt, gió mát, du khách có thể dõi tầm mắt ra xa phía biển khơi, hoặc dễ dàng quan sát ngắm cảnh bờ biển Bãi Dứa. Khoảng sân thực sự là nơi vãn cảnh của du khách. Ở đây người ta bài trí rất nhiều bon sai, hoa cảnh. Thấp thoáng phía sau những chậu cảnh mỹ thuật là thuyền Bát Nhã, một con rồng lớn cách điệu dày công trang trí và rất đẹp. Xung quanh thuyền được ốp mảnh sứ men lam, men màu.

Nổi bật trên mặt bằng trang trí nhiều hoa cảnh của sân thuyền Bát Nhã là gác chuông lớn nối liền với dãy nhà tĩnh nghỉ của các tu sĩ. Gác chuông được xây theo hình vuông, 4 mái uốn cong, trong tháp có một cái chuông lớn gọi là Đại Hồng Chung. Đại Hồng Chung cao 2,8m, chu vi 3,8m, nặng tới 3500kg. Đại Hồng Chung không những là chiếc chuông lớn nhất và nặng nhất mà còn có âm vang hay nhất trong các chuông chùa hiện có ở Vũng Tàu.

Từ gác chuông, toàn cảnh Niết Bàn hiện ra trước mặt du khách. Đó là một công trình kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và biển trời, cây xanh và tiếng chuông ngân tha thiết.

Hằng năm, vào dịp các lễ tết, chủ nhật hay ngày rằm, ngày đầu tháng, có hàng vạn lượt khách đến Niết Bàn Tịnh Xá chiêm bái, vãn cảnh. Với một phong cách kiến trúc đặc biệt toạ lạc ở một vị trí tươi đẹp của Bãi Dứa, Niết Bàn Tịnh Xá là một thắng cảnh nổi tiếng của Vũng Tàu được rất nhiều người ở mọi miền đất nước mến mộ và ước mong được một lần vãn cảnh, chiêm bái.

Du lịch, GO! - Theo NTO, ảnh internet

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Đến phố Tây ở cố đô Huế

Cho dù du khách đến đây ngày một đông, phố Tây Phạm Ngũ Lão ở Huế vẫn giữ được nét trầm mặc vốn có của cố đô.

Đông vui về đêm

Phố Tây ở Huế nằm bên bờ nam sông Hương, con phố hình thành từ lúc nào, không ai ở Huế nhớ rõ nữa. Phố không lớn và gồm những ngôi nhà cổ kính xen lẫn với những căn nhà ống kiểu mới. Không giống với phố Tây của những thành phố du lịch khác của Việt Nam – sôi động và náo nhiệt, phố Tây ở Huế vẫn giữ được nét trầm mặc vốn có của cố đô, cho dù du khách đến đây ngày một đông.

Dọc con phố có cửa hàng lưu niệm bán đủ các mặt hàng truyền thống cùng nhà hàng, khách sạn và văn phòng du lịch. Phố đông vui nhất khi màn đêm buông xuống. Những đoàn khách rảo bước quanh các cửa hàng lưu niệm, sau một ngày đi thăm hoàng cung, lăng tẩm hoặc chùa chiền. Trục đường chính của phố Tây tại Huế vô tình cũng mang tên Phạm Ngũ Lão giống phố Tây ở TP.HCM.

Ngày nay, con phố này đã mở rộng sang các con đường gần đó như Chu Văn An, Lê Lợi, Võ Thị Sáu. Có một cái quán mang tên DMZ (tức khu phi quân sự thời chiến tranh), nằm ngay góc Lê Lợi – Phạm Ngũ Lão,với bàn ghế bày ra cả ngoài trời. Sáng nay do ảnh hưởng của không khí lạnh từ miền Bắc tràn về nên trời trở lạnh, mưa lâm thâm, cũng có lẽ vì vậy mà phố Tây cũng thưa thớt hơn ngày thường. Phố gồm nhiều nhà nghỉ, khách sạn nhỏ phục vụ khách du lịch bình dân.

Tuy nhiên, bên cạnh các khách sạn nhỏ như Sports Hotel còn có những khách sạn lớn hơn như Asia Hotel. Và hiện nay, đã thấy thêm một khách sạn lớn được xây dựng, cao đến 10 tầng. Tôi nhớ trước đây nơi này là một quán cà phê sân vườn rất rộng. Thời gian trôi qua, mọi thứ phải thay đổi và cuộc sống phải tiếp diễn. Cũng may, dọc bờ sông (đường Lê Lợi) không có nhà cao tầng.

Trên đường Phạm Ngũ Lão còn có một số quán ăn bán cả cà phê khá lớn như Octopus. Quán sơn màu hồng nhã nhặn, nhà kiểu cổ, trước đây cũng là một ngôi nhà vườn. Tên quán cách điệu thành con bạch tuộc, khảm từ những mảnh sứ vỡ, trông khá đẹp mắt. Dọc đường Phạm Ngũ Lão tất nhiên không thể thiếu các quán ăn đặc sản Huế – bún bò, bánh bèo, bánh khoái, bánh nậm, nem lụi, như tại nhà hàng Missy Roo chẳng hạn.

Tên các món ăn đều được ghi bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh: bún bò là Hue beef noodle soup; bánh nậm, nam pancake; bánh khoái (tức bánh xèo), fried pancake… Cách dịch này khá ngây ngô nên có lẽ du khách nước ngoài khó mà hình dung được được là món gì. Do vậy một số nhà hàng đã in hình món ăn vào thực đơn, dưới tên tiếng Anh để cho dễ… tưởng tượng.

Ngày xưa vắng vẻ

Trong phố Tây còn có những chiếc xích lô trông rất nổi bật: khung xe được sơn màu tím Huế và bạt che mưa nắng… màu đỏ. Về con phố này, ông Bùi Vĩnh Cự, một nhà báo ở Huế, cho biết: “Trước đây đường Phạm Ngũ Lão rất vắng vẻ.

Những năm 1980, chỉ có những cặp tình nhân sinh viên đi dạo ở đây”. Theo ông, ngày trước vắng vẻ vì đường này ngắn và ít người sinh sống, có những nhà vườn rất rộng. Nơi đây bắt đầu được xây dựng nhiều, sau khi khách sạn Hoa Hồng 2 xuất hiện cùng các dịch vụ du lịch. Rồi các cửa hàng, khách sạn khác… cũng ra đời. Từ đó đất đai bắt đầu lên giá. Giá đất hiện giờ không dưới 30 triệu đồng/m2.

Đường Phạm Ngũ Lão chỉ dài hơn 200 m, hai đầu là đường Võ Thị Sáu và Lê Lợi. Đường Lê Lợi có vị thế đẹp nhất và giá nhà đắt nhất cố đô, nằm dọc theo bờ sông Hương với gần 60 cây cổ thụ. Cố đô vẫn còn lưu giữ nhiều di tích được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, có núi Bạch Mã – nơi người Pháp trước kia đã xây dựng khu nghỉ dưỡng, có nhiều chùa đẹp như Thiên Mụ.

Huế lại ở gần Quảng Bình – nổi tiếng với động Phong Nha, thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vĩnh Mốc, cầu Hiền Lương… Thành phố này cũng không xa Hội An nên có thể được xem như một trung tâm du lịch, du khách có thể dừng chân trước khi thăm thú những điểm du lịch khác.

Thật đặc biệt, nằm ngay giữa phố Tây là nơi sinh hoạt của một nhóm ca Huế, tại nhà của nhà văn Bửu Ý (số 9 Phạm Ngũ Lão). “Nhóm thường gặp nhau vào thứ Bảy hằng tuần. Những nghệ nhân ca Huế kỳ cựu như Thanh Tâm, Minh Mẫn, Thanh Hương… vẫn đến đây hát cho nhau nghe,” bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, một nhà báo ở Huế, cho biết. Theo bà, ông Bửu Ý – cũng là một nhà giáo, cùng vợ của mình rất yêu thích ca Huế nên đã lập ra nhóm này trên tinh thần tự nguyện. Một số mạnh thường quân đã góp thêm tiền và gạo giúp những nghệ nhân già neo đơn. Ai muốn học ca Huế đều có thể đến đây để được truyền nghề.

Ngôi nhà của nhà văn còn là nơi đón tiếp nhiều đoàn khách du lịch trong và ngoài nước đến thưởng thức và tìm hiểu nghệ thuật ca Huế. Họ không cần mua vé; nhà văn không làm kinh doanh.

Và những nghệ nhân ở đây chỉ muốn bảo tồn và giới thiệu loại hình nghệ thuật này. Cho dù phố Tây nói riêng và thành phố Huế nói chung có phát triển thế nào đi nữa, dường như một số người dân địa phương vẫn cố gắng lưu giữ những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, không muốn cho chúng bị mai một.

Du lịch, GO! - Theo Tinmoi, internet

Ấm lòng với bún đỏ trên cao nguyên Đắk Lắk

Bún đỏ rất giản dị và dân dã, lạ miệng và thơm ngon. Khi mới đặt chân đến Đắk Lắk, vào một buổi chiều thời tiết se lạnh, một tô bún đỏ đã có thể làm du khách ấm lòng.

< Bún đỏ Ban Mê Thuộc.

Nằm trên cao nguyên Đắk Lắk rộng lớn ở phía Tây dãy Trường Sơn, TP.Buôn Ma Thuột không chỉ là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Đắk Lắk, mà còn là thành phố trung tâm cấp vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng của vùng và cả nước.

Với lợi thế là vùng đất ba gian màu mỡ trù phú bậc nhất Tây Nguyên, Ban Ma Thuột luôn cho những hạt cà phê có hương vị đậm đà và thơm ngon. Đặc biệt, một trong những ấn tượng khó quên của thực khách khi đến đây là những ống cơm lam thơm ngát, chóe rượu cần say nồng, con gà sa lửa được ướp và nướng rất cầu kỳ công phu cùng với những món ẩm thực đặc sản khiến du khách khó quên, trong đó có món bún đỏ khá hấp dẫn “chẳng nơi nào có được”.

Món bún đỏ được bày bán nhiều nhất ở dọc con đường Phan Đình Giót, TP. Buôn Ma Thuột. Đây là con đường ngắn khoảng 100m giao với đường Lê Hồng Phong nằm ngay trung tâm thành phố nhưng được ưu thế là gần chợ Buôn Ma Thuột và một số trường học nên tập trung khá nhiều quán ăn ngon, trong đó phải kể đến hơn chục quán bún đỏ rất đặc sắc của người Ban Mê.

Khác với những món nước cầu kỳ như phở, bún chả cá Quy Nhơn, bún bò Huế, bún mắm…, bún đỏ rất giản dị và dân dã, lạ miệng và thơm ngon. Khi mới đặt chân đến Đắk Lắk, vào một buổi chiều thời tiết se lạnh, một tô bún đỏ đã có thể làm du khách ấm lòng.

Nguyên liệu để chế biến món ăn này làm từ cua đồng, chả viên và những quả trứng cút luộc. Qua bàn tay khéo léo của người nấu, tô bún đỏ trở nên hấp dẫn với màu sắc và mùi vị vô cùng quyến rũ: màu hơi đỏ của hạt điều, màu đỏ au của miếng cà chua cắt múi cau, màu xanh tươi non của đĩa rau, màu nâu của riêu cua và chả cá, màu trắng nõn nà của trứng cút luộc vừa bắt mắt vừa kích thích vị giác!

Thoạt nhìn nhiều người sẽ lầm tưởng món bún đỏ rất giống với bún riêu hay món canh bún thường bán ở Sài Gòn, nhưng hoàn toàn khác bởi bún đỏ của người Buôn Ma Thuột được ăn kèm rau cần nước và giá cùng một số phụ gia như mỡ hành, tóp mỡ rán giòn và nhất là trứng cút luộc.

Tuy rẻ và rất bình dân nhưng món bún đỏ rất được mọi người ưa chuộng, đi ngang bất kỳ một hàng bún đỏ nào, dù trong chợ, ở đầu ngõ, trên vỉa hè, bên đôi quang gánh, quanh một chiếc xe đẩy hay trong một quán ăn sang trọng... cũng có thể thấy cảnh người ăn tấp nập.

Buổi tối, ở Buôn Ma Thuột, trời se lạnh, góc phố bún đỏ Phan Đình Giót trở thành nơi khách đi về và nhất là xì xụp tô bún đỏ nóng hổi… đón hương vị lạ miệng để cảm nhận một Buôn Ma Thuột rất riêng biệt.

Du lịch, GO! - Theo Báo Du Lịch, internet

Rừng Phia Oắc - Phia Đén (P4)

Trong chuyến khảo sát tháng 10 vừa qua, chuyên gia lâm nghiệp Vũ Văn Dũng đánh giá với lợi thế về địa hình, khí hậu và điều kiện nhân văn, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái, Phia Oắc – Phia Đén có đủ các tiêu chí, thậm chí thừa tiêu chí, để trở thành vườn quốc gia thứ 31 của Việt Nam.

Đề xuất Phia Oắc - Phia Đén trở thành vườn quốc gia

Theo quy định hiện hành, các khu rừng quý phải có diện tích từ 15.000ha rừng trở lên thì Chính phủ mới công nhận là rừng đặc dụng (sau đó có thể xây dựng vườn quốc gia).

Còn theo Quyết định số 194/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký ngày 9/8/1986 “Khu bảo tồn thiên nhiên” núi Phia Oắc – Phia Đén được thành lập bao gồm sáu đơn vị hành chính gồm thị trấn Tĩnh Túc và các xã Quang Thành, Phan Thanh, Vũ Nông, Thành Công, Hưng Đạo (thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) nhằm bảo vệ khu rừng “á nhiệt đới lá rộng xen lá kim núi thấp”, phân bố chủ yếu từ độ cao 1000m đến 1931m (đỉnh Phia Oắc). Diện tích ghi trong quyết định là 10.000ha. Còn theo số liệu do ông Long Văn Bằng, Giám đốc Rừng Đặc dụng Phia Oắc – Phia Đén, cung cấp thì diện tích rừng đặc dụng Phia Oắc – Phia Đén là 10.261ha (theo quy hoạch phân chia 3 loại rừng năm 2008 của tỉnh).

Hiện nay ở Việt Nam có 12 bộ thú trên cạn. Ở rừng núi Bắc Bộ có 10 bộ thì vùng núi Phia Oắc-Phia Đén đã xác định sự hiện diện các loài thuộc 8 bộ, chiếm 66,7% số bộ thú của Việt Nam; với số loài đã biết là 87 loài/300 loài, chiếm 29% tổng số loài thú trên cạn của cả nước. Nếu so với một số vườn quốc gia Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) có 52 loài; vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) 65 loài; khu bảo tồn Hữu Liên (Lạng Sơn) có 73 loài, thì đa dạng thành phần loài thú Phia Oắc là rất cao. Trong số đó có ít nhất 24 loài thú thuộc diện quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh mục Đỏ Thế giới năm 2011 và trong các phụ lục IB, IIB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Cùng với đó là 11 loài chim quý hiếm, 14 loài bò sát và 7 loài côn trùng quý hiếm. Đây chính là di sản, là báu vật của núi rừng Phia Oắc cần được ưu tiên bảo tồn.

Theo đánh giá của các nhà khoa học, Phia Oắc – Phia Đén là khu rừng còn giữ được nhiều nét nguyên sinh, bởi các hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, rừng hỗn giao gỗ - tre nứa, cấu trúc bốn tầng với độ che phủ lớn. Đặc biệt có một số hệ sinh thái đặc trưng cho vùng núi cao như hệ sinh thái rừng lùn, rừng rêu. Trong thảm cỏ hàng nghìn loài thực vật, trong đó có một số loài cây có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn cao như cây gù hương hay còn gọi là re hương; lát hoa, sến mật, nghiến, dẻ tùng, cùng với nhiều cây thuốc quý, quần thể phong lan đa dạng, cây cho quả, như trám trắng, trám đen, bứa, dọc, dâu da, vải, nhãn rừng, sung, vả, me... với các thảm xanh bốn mùa tươi tốt, là nơi tạo điều kiện sinh tồn cho khu hệ động vật hoang dã.

Dựa theo các tiêu chí phân cấp vườn quốc gia tại điều 17, Luật Đa dạng Sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008 được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 4, nhóm tác giả đã đề xuất xây dựng thành vườn quốc gia Phi Oắc – Phia Đén có diện tích là 20.480 ha trong đó rừng nguyên sinh là 9.500ha trên địa phận của các xã Ca Thành, Triệu Nguyên, Vũ Nông, Mai Long, Phan Thanh, Quang Thành, Thành Công, và thị trấn Tĩnh Túc.


< Các nhà khoa học, nhà bảo tồn, và các chuyên gia lâm nghiệp đều có chung nhận định rằng Phia Oắc – Phia Đén hoàn toàn xứng đáng quy hoạch thành vườn quốc gia.

Vùng đề xuất xây dựng vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén là vùng núi có địa hình phân cắt phức tạp với các dãy núi nhấp nhô uốn lượn vòng cung, núi đá dựng đứng hiểm trở trùng điệp nối tiếp nhau, được che phủ gần như hoàn toàn bằng những thảm rừng nguyên sinh mưa mùa và mưa ẩm á nhiệt đới xanh ngút ngàn. Vùng đề xuất xây dựng thành vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén là nơi sinh sống thường xuyên không chỉ của một loài mà 16 loài thực vật và 56 loài động vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cao.

Trước đề xuất trên, ông Nguyễn Sinh Cung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn tỉnh Cao Bằng, đề nghị các nhà khoa học cần xem xét lại diện tích, nếu trên 20.000 thì cao quá mà chỉ từ 13.000 đến 14.000ha thì dễ quản lý hơn. Trong vùng Phia Oắc – Phia Đén dân số năm 2010 là 32.064 người. Mật độ dân số trung bình là 50,6 người/km2 (trừ xã Bình Lãng của huyện Thông Nông). Hai thị trấn Tĩnh Túc, Nguyên Bình và các xã Thái Học, Vũ Nông, Thể Dục, Mai Long, Minh Thanh, Tam Kim có mật độ dân cư cao, lớn hơn mật độ trung bình của vùng, đó cũng là các khu vực có đất nông nghiệp nhiều, dân cư tập trung thành từng cụm lớn với sản xuất nông nghiệp là chính. Trong vùng dân tộc Dao nhiều nhất, chiếm 48,62%; Nùng 23%; Tày, 14%; Mông 1%.

Đánh giá sau chuyến khảo sát thứ sáu kết hợp các ý kiến tại hội thảo “Phia Oắc-Phia Đén – Báu vật thiên nhiên quốc gia” diễn ra trong tháng 10 ở Cao Bằng, các nhà khoa học, nhà bảo tồn, và các chuyên gia lâm nghiệp đều có chung nhận định rằng nơi đây hoàn toàn xứng đáng quy hoạch thành vườn quốc gia.

Ông Long Văn Bằng, Giám đốc Rừng Đặc dụng Phia Oắc – Phia Đén, cho biết qua khảo sát thực tế kết hợp với những tài liệu thu thập được, các nhà khoa học đánh giá hiện nay rừng bị chặt phá ngày càng mạnh mẽ, khai thác quặng, đa dạng sinh học vùng Phia Oắc – Phia Đén đã và đang bị suy giảm đáng kể. Nếu không kịp thời ngăn chặn nạn “quặng tặc” hoặc các giải pháp quản lý, bảo vệ và bảo tồn theo các quy chế của vườn quốc gia không sớm được quy hoạch và quyết định thì các báu vật  của Phia Oắc – Phia Đén, đặc biệt sản phẩm du lịch cực kỳ quý giá sẽ bị suy giảm hoặc mất mát.

Việc điều tra, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội vùng Phia Oắc-Phia Đén là rất cần thiết nhằm đánh giá chính xác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đa dạng sinh học; xác định và khoanh vùng các hệ sinh thái đặc thù; các loài động vật quý hiếm và đặc hữu đang bị đe dọa nghiêm trọng. Trên cơ sở đó, có thể đề xuất các giải pháp, hoạch định bảo tồn, bảo vệ những giá trị quý giá của tài nguyên đa dạng sinh học mà thiên nhiên đã ban tặng Phia Oắc - Phia Đén, tỉnh Cao Bằng nói riêng và vùng Đông Bắc Việt Nam nói chung.

Ông Long Văn Bằng chia sẻ: Trải qua hơn 20 năm công tác tôi đã đi hầu hết các huyện trong tỉnh Cao Bằng (trước đây tôi công tác ở Đoàn điều tra quy hoạch Lâm nghiệp Cao Bằng) chưa thấy nơi nào có rừng phân bố tập trung với diện tích lớn (trên 7.000 ha) như ở khu rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén. Tôi cũng có nhiều đợt đi tuần tra ở nhiều khu vực, địa điểm khác nhau trong khu rừng thấy tính đa dạng sinh học ở đây rất cao, nhiều loài cây có thể chưa biết tên, cấu trúc rừng nhiều tầng, đặc biệt là rừng rêu ở phía trên đỉnh Phia Oắc có lẽ ít nơi nào có được, rừng nguyên sinh khu vực Ca Mi – Tĩnh Túc, Khuổi Má - Thành Công có cây cao tới 30-35m đường kính 50 - 60 cm.

Nhiều cây có tên trong sách đỏ như cây gù hương, theo người dân địa phương gọi là cây mạy vác thì hiện nay cây còn sống là không tồn tại, nhưng theo đoàn Phân viện Điều tra Quy hoạch Đông Bắc Bộ khảo sát tháng 5/2012 (để xây dựng dự án bảo vệ và phát rừng đặc dụng giai đoạn 2013 -2020) thì khẳng định cây gù hương hiện nay vẫn còn cây gỗ lớn và cây tái sinh. Ngoài ra còn có cây bảy lá một hoa, lan kim tuyến cũng có tên trong sách đỏ, cây thảo quả, xa nhân…. Về chim thì có gà so ngực gụ cũng có tên trong sách đỏ. Về côn trùng có cua bay hoa, bọ hung sừng chữ Y, bọ hung ba sừng, cặp kìm sừng đao, bọ lá có tên trong sách đỏ và nhiều loài bướm lạ, đẹp chưa biết tên. Qua một thời gian chưa phải là nhiều tôi cũng biết được đôi chút về khu rừng Phia Oắc - Phia Đén, để biết được nhiều bí ẩn về khu rừng Phia Oắc - Phia Đén phải nhờ đến nhiều nhà khoa học, nhiều nhà nghiên cứu và thời gian dài thì câu trả lời sẽ rõ.

Theo đánh giá của ông Bằng, đề tài “Nghiên cứu, điều tra đánh giá thực trạng đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén” do Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Việt Nam xây dựng là rất khả thi. Các nhà khoa học của Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Việt Nam và Trung tâm Địa Môi trường&Tổ chức Lãnh thổ đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu có quy mô, đánh giá được thực trạng đa dạng sinh học, các giá trị đặc biệt thiên nhiên hiện có. Nhiều loài thực vật, động vật quý hiếm có tên trong sách đỏ và trong “Nghị định 32” chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhiều khu rừng đặc dụng lân cận; Thực trạng đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên đáp ứng được các tiêu chí theo Nghị định số 117/2010/NĐ – CP, ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và quản lý rừng đặc dụng và Luật Đa dạng Sinh học năm 2008 đủ cơ sở khoa học để xây dựng vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén.

Hết

Rừng Phia Oắc - Phia Đén (P1): Độc đáo “Rừng cảnh tiên” Phia Oắc – Phia Đén
Rừng Phia Oắc - Phia Đén (P2): Mất dần những động vật quý hiếm
Rừng Phia Oắc - Phia Đén (P3): Đánh thức Phia Oắc – Phia Đén
Rừng Phia Oắc - Phia Đén (P4): Đề xuất Phia Oắc - Phia Đén trở thành vườn quốc gia

Du lịch, GO! - Theo Mạnh Cường (Tinmoitruong), internet